Ném chuột vỡ bình
Nền
kinh tế của Việt Nam chúng ta vẫn đang là nền kinh tế dùng
tiền mặt. Dùng tiền mặt để thanh toán chi phí gia đình, sinh
hoạt; tiền mặt để mua nhà, xe... Vậy còn tiền lưu thông qua
kênh ngân hàng là của ai? Tất cả các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh đều có tài khoản ngân hàng nhưng chỉ một số trong
đó là chuyển tiền thanh toán qua kênh ngân hàng để thanh toán
vật tư, nguyên liệu và các khoản vay còn lại vẩn thích dùng…
tiền mặt. Còn trong đại bộ phận dân chúng? Có lẽ chỉ một số
rất ít cá nhân có thói quen sử dụng dịch vụ ngân hàng còn
lại đại bộ phận dân chúng vẫn dùng tiền mặt.
Khi
NHNN dùng giải pháp bất ngờ rút một lượng tiền lớn lưu thông
trong nền kinh tế tức là rút máu lưu thông trong huyết mạch
(các ngân hàng thương mại) lập tức tạo tình trạng khan hiếm
tiền đồng trong hệ thống ngân hàng và cũng lập tức lãi suất
liên ngân hàng bị đẩy lên cao chót vót (cao điểm là 43%/năm).
Các ngân hàng đã cho vay đầu tư và đầu cơ bất động sản chiếm
hệ số cao trong tổng dư nợ qua các khoản vay dài và trung hạn
liền lao vào cuộc đua tăng lãi suất và hiện nay các ngân hàng
đóng băng các khoản cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp (mà bản thân các doanh nghiệp cũng không dám
vay vì lãi suất quá cao 1,59-2% dẫn tới giảm lợi nhuận hoặc lỗ
trong kế hoạch SXKD).
Trong
lúc đó, trên thị trường tiền tệ vẫn lưu thông rất lớn không
thông qua kênh ngân hàng và làm chỉ số giá tiêu dùng cũng đội
quá tầm tay của người làm công ăn lương bình thường. Như vậy
giải pháp hút tiền lưu thông của ngân hàng nhà nước thông qua
hệ thống các ngân hàng thương mại gần như bị phá sản. Việc
thị trường chứng khoán - hàn thử biểu của nền kinh tế rơi
thẳng từ độ cao xấp xỉ 1.200 về gần 600 và vẫn đang trên đà
rơi rất mạnh là một minh chứng. Vậy giải pháp nào để cứu nền
kinh tế?
1.
Bỏ mặc thị trường chứng khoán với 300.000 tài khoản? Không
thể vì 300.000 tài khoản này giữ gần như toàn bộ giá trị
thị trường (vốn hóa thị trường) mà chính UBCK NN công bố là
chiếm 40% GDP và thời gian gần đây mỗi ngày bốc hơi 5%. Thị
trường chứng khoán là tinh hoa của thị trường tiền tệ và hệ
thống các ngân hàng là xương sống là huyết mạnh của nền kinh
tế đó. Thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn lớn và
quan trọng cho nền kinh tế.
2.
Tiếp tục siết chặt tiền lưu thông qua hệ thống ngân hàng bằng
hình thức mua tín phiếu bắt buộc? Có thể tốt nhưng với lãi
suất như thời gian qua đã minh chứng đó là giải pháp bất ổn.
Tuy nhiên việc này sẽ hiệu quả hơn nếu ngân hàng nhà nước
điều chỉnh lãi suất phù hợp với tình hình.
3.
Siết chặt cho vay đầu tư vào lĩnh vực bất động sản? Điều này có vẻ
hợp lý, tuy nhiên nếu đưa ra những biện pháp mạnh có thể gây ra hiệu
ứng xấu hơn cho thị trường tiền tệ vì các khoản vay đầu tư bất
động sản là các khoản vay dài hạn khó có thể thu hồi ngay.
Nhiều ngân hàng thương mại cho vay bất động sản chiếm 40-50%
tổng dư nợ thì việc có 1 “Chỉ thị 03 cho đầu tư bất động sản” sẽ làm
tê liệt hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên áp dụng hình thức này một
cách mềm dẻo sẽ có hiệu quả. Hiện nay nhu cầu sử dụng bất động
sản (nhà cửa, đất đai, căn hộ …) rất cao nhưng vượt qua tầm
với của đại bộ phận cá thể có nhu cầu đó, những người có
khả năng mua BĐS đa số là các nhà đầu tư, mua đi bán lại hưởng
chênh lệch, chỉ một số ít mua để phục vụ nhu cầu sử dụng do
đó bong bóng BĐS bị bơm phồng lên mãi. Theo các chuyên gia của
câu lạc bộ SAFC là việc thắt chặt việc cho vay đầu cơ BĐS song
song với việc nới lỏng việc cho vay đối với các chủ đầu tư xây
dựng bất động sản. Tuy nhiên, quan trọng nhất là việc xác định chính
xác đối tượng cho vay. Công tác thanh tra của Ngân hàng nhà nước và
công tác thẩm định đối tượng cho vay của các ngân hàng thương mại đối
với việc cho vay đầu tư BĐS giữ vai trò đặc biệt quan trọng.Nhà nước
phát hành trái phiếu lãi suất cao nhằm hút tiền về và điều
chỉnh lãi suất phù hợp theo từng thời điểm.
4.
Chấp nhận điều chỉnh tỷ giá hối đoái phù hợp theo thời
điểm, tuy có gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu nhưng
bù lại du nhập được nhiều công nghệ cao trong giai đoạn này cho
các doanh nghiệp đổi mới quy trình SXKD.
5.
Hạn chế IPO các doanh nghiệp lớn và kiên quyết loại trừ quan
điểm IPO với giá cao để tận thu từ thị trường chứng khoán.
Vụ IPO VCB và SABECO là một bằng chứng.
6. Điều chỉnh các mức thuế phù hợp hơn với các lĩnh vực kinh doanh sử dụng công nghệ cao. Theo Nguonkhac
|